Lịch sử của ống nhựa PVC (polyvinyl clorua)

Lịch sử của ống vòi Polyvinyl clorua (PVC)
Polyvinyl clorua (PVC) được phát hiện vào cuối thế kỷ 19. Các nhà khoa học vào thời điểm đó nhận thấy vật liệu nhựa mới này khác thường ở chỗ nó gần như trơ với hầu hết các hóa chất. Tuy nhiên, người ta đã sớm phát hiện ra rằng vật liệu này có khả năng chống lại sự thay đổi và kết luận rằng vật liệu này không thể dễ dàng được hình thành hoặc xử lý thành các ứng dụng có thể sử dụng được. Vào những năm 1920, sự tò mò khoa học một lần nữa khiến công chúng chú ý đến polyvinyl clorua. Ở Châu Âu và Châu Mỹ, những nỗ lực mở rộng cuối cùng đã đưa nhựa PVC đến với thế giới hiện đại. Công nghệ trên toàn thế giới và đặc biệt là ở Đức, đã phát triển chậm rãi để sử dụng PVC ở dạng cứng, không dẻo, ngày nay được sử dụng để sản xuất rất nhiều sản phẩm ép đùn và đúc khuôn. Vào giữa những năm 1930, các nhà khoa học và kỹ sư người Đức đã phát triển và sản xuất số lượng ống nhựa PVC hạn chế. Một số ống PVC được lắp đặt vào thời điểm đó vẫn tiếp tục cung cấp dịch vụ thỏa đáng cho đến ngày nay. Ống áp lực polyvinyl clorua (PVCO) định hướng phân tử đã được lắp đặt ở Châu Âu từ đầu những năm 1970 và ở Bắc Mỹ từ năm 1991. Ống polyvinyl clorua và các phụ kiện chế tạo có đặc tính và đặc tính từ đặc tính của các thành phần nguyên liệu thô của chúng. Về cơ bản, Ống PVC và các phụ kiện chế tạo được sản xuất từ hợp chất đùn PVC. Các phụ kiện đúc phun sử dụng các hợp chất đúc hơi khác nhau. PVCO được sản xuất từ hợp chất đùn PVC thông thường. Bản tóm tắt sau đây về các thành phần vật liệu của các hợp chất này cung cấp nền tảng vững chắc để hiểu và đánh giá cao các đặc tính của ống PVC. Nhựa polyvinyl chloride, thành phần nền tảng của ống PVC, là polymer có nguồn gốc từ khí tự nhiên hoặc dầu mỏ, nước muối và không khí. Nhựa PVC được sản xuất bằng phương pháp khối, huyền phù hoặc nhũ tương, rồi phối trộn với chất ổn định nhiệt, chất bôi trơn và thành phần khác để tạo hợp chất có thể đùn thành ống hoặc đúc thành đầu nối.